hotline đặt hàng: 0938221100

SD Anti-HBs

Viên gan B là một bệnh gan phổ biến và nguy hiểm. Hàng trăm triệu người, phần lớn họ sống trong những vùng có chế độ chăm sóc y tế nghèo nàn, họ thường bị nhiễm mãn tính với virus và phải đối mặt nguy cơ bị ung thư gan rất cao. Anti-HBs gồm có thành phần chính yếu quyết định là “a” và thành phần quyết định đặc biệt là “d” và “y”, hiện tại chỉ dựa trên kiểu huyết thanh đặc trưng. Việc phát hiện Anti-HBs trở nên quan trọng để theo dõi bệnh nhân bị nhiễm viêm gan siêu vi B (HBV). Nó rất quan trọng khi kiểm tra quá trình chủng ngừa vắc xin với tái tổ  hợp HBsAg và Anti-HBs tự nhiên.
SD Bioline Anti-HBs là test dựa trên phương pháp sắc ký miễn dịch để định tính phát hiện kháng thể kháng HBV có trong huyết tương  hoặc huyết thanh.
SD Bioline Anti-HBs có hai chữ cái T và C là ký tự viết tắt của “Test Line” và “Control Line” có trên bề mặt của thanh thử. Cả 2 vạch T và vạch C trong cửa sổ kết quả (Result Window) sẽ không xuất hiện trước khi tiến hành chạy mẫu. Vạch C được sử dụng như vạch kiểm tra. Vạch C luôn xuất hiện trong cửa sổ kết quả nếu trong mẫu có đủ lượng kháng thể kháng lại HBV. Nếu kháng thể kháng lại HBV không có mặt hoặc có mặt với mức thấp trong mẫu thì sẽ không có vạch màu xuất hiện trong vùng T.
Test này được chuyên dụng như một hỗ trợ chẩn đoán bệnh viêm gan siêu vi B. Test có thể nhận biết được HBsAb trong mẫu huyết thanh hoặc huyết tương với độ nhạy cao là 30Miu/ml.

Các bài viết liên quan

Thành phần chính

  • Kít thử SD Bioline Anti-HBs gồm các phần sau:
  • Kít thử SD Bioline Anti-HBs được đóng gói riêng lẻ từng test một với chất chống ẩm bên trong.
  • Hướng dẫn sử dụng.
Lưu ý:
Kít nên bảo quản ở nhiệt độ phòng. Kít rất dễ hỏng nếu tiếp xúc với độ ẩm và nhiệt độ cao. Sử dụng ngay sau khi xé vỏ bao. Không sử dụng khi Kít đã hết hạn dùng.

Lấy mẫu và bảo quản mẫu
Kít dùng được cả huyết thanh lẫn huyết tương ở người
Nếu mẫu thử sau khi lấy không được thử ngay, thì nên bảo quản mẫu này ở nhiệt độ 2-80C. Nếu muốn bảo quản lâu hơn 3 ngày thì nên bảo quản ở tủ đông. Khi sử dụng thì nên đem mẫu về nhiệt độ phòng.

Mẫu thử có chứa chất kết tủa(không trong) có thể ảnh hưởng đến kết quả. Vì thế mẫu thử nên lọc cho trong trước khi thử.

Cảnh báo:

  • Chỉ sử dụng cho chẩn đoán trong ống nghiệm.
  • Không được ăn uống hoặc hút thuốc khi cầm nắm mẫu.
  • Phải đeo găng tay bảo vệ khi cầm mẫu. Rửa sạch tay ngay sau đó.
  • Tránh làm văng tung tóe mẫu.
  • Trường hợp làm đổ mẫu bệnh phẩm phải lau sạch hoàn toàn bằng thuốc tẩy chuyên dụng.
  • Làm sạch và bỏ tất cả các mẫu, thanh thử, những vật liệu có khả năng lây nhiễm cao vào các thùng đựng rác riêng biệt.
  • Không được sử dụng thanh thử khi túi đựng bị rách hoặc bị mất dấu niêm phong.
Tiến hành:
  • Lấy thanh thư đặt trên mặt phẳng, nơi khô ráo.
  • Thêm 100µ mẫu huyết tương hoặc huyết thanh vào giếng thử.
  • Khi huyết thanh di chuyển, bạn sẽ thấy một vạch màu đỏ tía di chuyển đến vùng giữa của thanh thử.
  • Đọc kết quả tại phút thứ 20. Không đọc kết quả sau 20 phút.

Lưu ý: Kết quả của xét nghiệm nên đọc ở nhiệt độ phòng từ 15-300C. Nếu nhiệt độ phòng thấp hơn 100C thì thời gian đọc kết quả sẽ tăng lên 30 phút.

Đọc kết quả:
  1. Một vạch màu sẽ xuất hiện ở bên trái của khung kết quả nhằm hiển thị test đang hoạt động tốt. Vạch C này được gọi là vạch kiểm tra (Control Band).
  2. Phía bên phải của khung kết quả sẽ biểu thị kết quả xét nghiệm: Nếu có một vạch màu nữa xuất hiện tại vạch thử T (Test Band).
  • Kết quả âm tính: chỉ xuất hiện một vạch màu đỏ tia trên khung kết quả tại vùng C.
  •  Kết quả dương tính: xuất hiện hai vạch màu (vùng T và C) trong khung kết quả.
  • Kết quả không có giá trị: nếu không có vạch màu đỏ tía nào xuât hiện trong khung kết quả sau khi thực hiện test. Có thể người thực hiện đã không theo đúng hướng dẫn sử dụng hoặc thanh thử bị hư hoặc đã hết hạn sử dụng. Do vậy, cần tiến hành thử lại mẫu.

Giới hạn của Test:

Một kết quả âm tính không có nghĩa là không có nguy cơ có thễ bị lây nhiễm với HBV. Về phương diện lâm sàng khác đã có sẵn, test này được đòi hỏi nếu ta thu được một kết quả đáng ngờ. Như tất cả các loại chẩn đoán nhanh khác, việc chẩn đoán để khám và điều trị cuối cùng không nên chỉ dựa vào một test thử đơn lẻ.