hotline đặt hàng: 0938221100

RPR

    Định tính và định lượng nhanh để phát hiện Non-Treponema (reagin) có trong huyết thanh hoặc huyết tương.
Nguyên lý:
     Bên cạnh các kháng thể khác, Treponema Pallidium sản xuất ra kháng thể non-Treponemal. Những kháng thể này có thể được phát hiện bởi kháng nguyên  RPR. Test ATLAS RPR là test xét nghiệm qua lớp màng nhằm định tính và định lượng phát hiện kháng thể reagin có trong huyết thanh hoặc huyết tương. Bộ kít có chứa kháng nguyên dựa trên việc sử dụng kháng nguyên Carbon VDRL. Khi có mặt reagin, kháng nguyên sẽ gây ra phản ứng ngưng kết các phần tử carbon và kết thành khối màu đen. Phần tử than có trong dịch huyền phù kháng nguyên nhằm tăng cường sự nhận biết quá trình ngưng kết dễ dàng trong mẫu dương tính.

Các bài viết liên quan

Có thể sử dụng cả mẫu huyết thanh hoặc huyết tương.
2. Đối với mẫu huyết thanh có thể ổn định được trong 7 ngày nếu lưu trữ ở 2 – 8°C.
3. Mẫu huyết tương với EDTA có thể ổn định trong vòng 24 giờ nếu lưu trữ ở 2 – 8°C.
4. Bộ thuốc thử nên lưu trữ ở vị trí thẳng đứng và làm lạnh ở 2 – 8°C. Không được đông đá. Tấm lắc không cần làm lạnh và có thể giữ ở nhiệt độ phòng.
•    Định tính:
1.    Đặt hóa chất ở nhiệt độ phòng.
2.    Hút 50μl mẫu thử vào trong vòng thử trên tấm lắc.
3.    Lặp lại bước thứ hai đối với mẫu chứng dương và chứng âm.
4.    Trải đều mẫu lên vòng xét nghiệm.
5.    Trộn đều dung dịch antigen carbon.
6.    Gắn kim vào lọ phân phát. Bóp lọ để hút một lượng thuốc thử vừa đủ cho nhu cầu xét nghiệm.
7.    Giữ lọ ở vị trí thẳng đứng, nhỏ vài giọt trở lại vào lọ kháng nguyên để làm sạch đoạn kim.
8.    Nhỏ một giọt carbon antigen vào mỗi vòng thử đã chứa sẵn mẫu. Không được trộn antigen với mẫu.
9.    Sử dụng máy lắc, lắc thanh thử với vận tốc 100 vòng/ph trong 8 phút.
10.    Đọc kết quả dưới ánh đèn ngay sau 8 phút.
•    Định lượng:
1.    Nhỏ 50μl dung dịch nước muối 0.9% vào vòng thử đánh số từ 2 đến 5. Dung dịch nước muối không cần trải. Nhỏ 50μl mẫu vào vòng thử 1.
2.    Nhỏ 50μl mẫu vào vòng thử 2. Chuẩn bị theo thứ tự pha loãng hai lần bằng cách trộn lên và xuống mẫu bằng pipette 5 đến 6 lần (tránh sự hình thành bọt khí). Chuyển 50μl từ mẫu 2 sang 3, từ 3 sang 4, từ 4 sang 5. Rút ra 50μl từ vòng thử số 5 sau khi trộn đều.
3.    Bắt đầu từ mẫu số 5 đến 4, 3, 2, 1 trộn và trải huyết thanh lên tòan bộ phần của mỗi vòng thử.
4.    Tiếp tục tiến hành tương tự như bước 6 đến bước 10 của quá trình định tính.

Dương tính: Xuất hiện một đốm ngưng kết lớn ở chính giữa hay ở xung quanh vòng thử có chứa mẫu. Nếu thấy sự ngưng kết nhưng yếu hoặc nhỏ thì test này có thể đọc là dương tính yếu. Nếu xét nghiệm test là dương tính thì kết quả nên khẳng định lại là tiến trình định lượng được đề cập bên dưới .

Am tính: Không có sự ngưng kết xuất hiện và mẫu có màu xám.